Bánh cáy là đặc sản có nguồn gốc từ làng Nguyễn, thuộc xã Đông Hưng, tỉnh Hưng Yên (xã Nguyên Xá, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình trước khi sáp nhập). Tên gọi của bánh bắt nguồn từ hạt nếp cái hoa vàng đem ngâm, trộn gấc đỏ đồ xôi, rồi ép dẻo, xắt hạt lựu lại đem phơi khô, tạo màu vàng giống trứng con cáy nên bánh có tên gọi là bánh cáy.
Để làm được một mẻ bánh cáy, trước đó ít nhất khoảng nửa tháng, mỡ lợn đã được thái nhỏ hạt lựu rồi ướp trộn với đường cho thấm. Sau đó, gần đến lúc làm bánh, nguyên liệu này tiếp tục được đem xào cho đến khi mỡ đạt độ trong và giòn. Các phụ liệu như lạc, vừng cũng được bà con rang chín, xát nhẹ để bỏ vỏ. Cà rốt, gừng tươi, vỏ quýt tươi đem xào đường rồi để riêng. Gạo nếp làm bánh cáy cũng nhiều công phu, được chia làm 3 phần, trong đó, hai phần để nấu xôi, một phần để làm bỏng.
Bánh cáy có cách làm công phu.
Sau khi đã sơ chế hoàn chỉnh, người làm đem hỗn hợp nguyên liệu trộn đều với mật mía đảo trong chảo cho tới khi dậy mùi thì múc vào khuôn gỗ đã lót sẵn vừng bên trong để tạo hình. Bánh khi cứng lại được lấy ra khỏi khuôn và khoác lớp "áo vừng" bóng bẩy bên ngoài. Bánh cáy có vị ngọt thanh, thơm bùi và hơi cay nhẹ của gừng, tạo nên nét đặc trưng rất riêng.