Kẻ tử tù đó là Đào Văn Vượng. Kẻ từng chĩa súng vào một người vô tội và thản nhiên bóp cò, cướp đi cuộc sống của con người đó.
Chiều 8/9/1988, hai tên Đào Văn Vượng và Trịnh Văn Hà, người xã Tiêu Động, huyện Bình Lục, Hà Nam, quyết định đi cướp xe máy để bán lấy tiền tiêu. Sẩm tối hôm đó, mỗi tên mang theo một khẩu súng ngắn đến phục tại đoạn đường phố Cà đi Ý Yên. Khi thấy một xe máy chạy trên đường, hai tên đã xông ra chặn lại. Anh Vũ Văn Hãn, cán bộ Công ty Thủy nông huyện Ý Yên, đã van xin và nộp tiền cho bọn chúng, nhưng chúng xông vào giằng xe. Thấy vậy anh Hãn thét lên: “Cướp! Cướp!”.
Lập tức tên Hà chĩa súng bắn một phát. Cùng lúc đó, tên Vượng bắn ba phát vào anh Hãn. Anh Hãn trúng đạn ngã gục xuống mặt đường. Hai tên cướp nhảy lên xe phóng đi. Nhân dân trong vùng nghe tiếng súng nổ đã kịp thời loan báo. Quần chúng đổ ra đường đuổi theo bọn cướp. Tên Hà cầm lái, tên Vượng ngồi phía sau xe, hai tay hai súng bắn về hướng những người đuổi theo. Không chịu lùi bước, dòng người đuổi theo ngày càng đông, mọi người vừa chạy vừa hô: “Cướp! Cướp! Bà con ơi!”.
Sau khi chạy thoát, tên Vượng về nhà thay quần áo, sau đó nhờ anh rể dùng xe máy chở ra đường 21 rồi y lên thị xã Phủ Lý. Tại đó, hắn xuống sông tắm rửa, vứt súng đạn và chuồn lên nhà dì ruột ở xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội ẩn náu. Đến ngày 13/5/1989, tên Vượng lấy trộm một xe máy Simson của một gia đình ở phố Thuốc Bắc, Hà Nội, đem thay biển kiểm soát nhằm tránh sự phát hiện. Sáng 30/6/1989, anh Phạm Văn Ngọc mượn chiếc xe này đi vào nội thành Hà Nội thì anh Trần Ngọc Trung nhận ra xe của gia đình mình bị mất nên đã báo Công an Hà Nội bắt giữ. Sau đó, tên Vượng được đưa về Hà Nam Ninh xử lý.
Trong quá trình giam giữ ở trại Đại An, tên Vượng đã tự xưng là “anh chị”, sẵn sàng đánh bất cứ phạm nhân nào ở chung với hắn và ngay cả với quản giáo. Có lần đưa hắn đi tắm nắng, quản giáo giục hắn vào buồng giam vì đã hết giờ quy định, hắn đã đánh lại và chửi bậy. Có lần hắn bị luật cùm một chân. Trong lúc đó, hắn liên tục chửi giám thị. Với lòng kiên trì, các cán bộ quản giáo đã chỉ cho tên Vượng thấy rõ tội lỗi của hắn. Lần đó, tên Vượng xin giám thị tháo cùm.
Nhưng với thái độ kiên quyết, đồng chí Bùi Đức Hưng trả lời: “Tôi không thành kiến, không trả thù những hành vi hỗn xược của anh đối với tôi. Nếu như ở ngoài xã hội, anh chỉ bằng tuổi con tôi. Tôi cho đó là hành vi của đứa con hư hỏng. Song về mặt luật pháp, anh đã chửi, đánh cán bộ quản giáo, chửi giám thị trại là vi phạm những điều luật đã định, do đó không thể tháo cùm sớm được”.
Ngày tháng cứ thế trôi đi, lòng nhân ái và những hành động thiện chí của các cán bộ quản giáo đã làm cho Vượng dần tỉnh ngộ về những hành vi phạm tội của mình. Kẻ thản nhiên chĩa súng vào một con người vô tội và bóp cò giờ đã khóc vì hối hận. Lương tâm làm người đã thức dậy đâu đó trong cõi lòng tăm tối lâu nay của hắn.
Theo An Ninh Thế Giới, sau khi Tòa án Nhân dân Hà Nam Ninh xử sơ thẩm về các tội giết người, cướp của, trộm tài sản công dân và tuyên án tù chung thân, Vượng cúi đầu nhận tội. Từ ngày đó, vợ con, người thân thường xuyên được tiếp xúc, tiếp tế Vượng. Quản giáo và giám thị trại cũng thường xuyên giáo dục, giúp đỡ để hắn hối cải.
Sau khi có kháng cáo của Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án Nhân dân Tối cao đã tiến hành xử phúc thẩm và tuyên án tử hìhh đối với Vượng.
Những ngày sau đó, hắn vẫn được các quản giáo đối xử công bằng và đầy tình người.
Có lần hắn yêu cầu giám thị cho ăn bữa bún riêu cua có rau sống và đủ gia vị. Dù tiêu chuẩn dành cho hắn không có, nhưng trại vẫn dành phần quỹ tăng gia để đáp ứng yêu cầu đó. Một lần khác, y lại đòi ăn trứng vịt luộc, trại cũng đáp ứng. Tất cả sự nhân đạo của Nhà nước, của trại giam dành cho phạm nhân là nhằm cho họ hối cải để trở về với cuộc sống lương thiện dù chỉ trong một khoảnh khắc cuối đời. Nhưng cái thiện trước tiên là phạm nhân phải thấy hết tội lỗi, điều ác của mình thì mới sửa chữa được.
Còn Vượng thì ngược lại. Hắn đã đổ lỗi cho kẻ đồng hành “xấu số”. Sau vụ gây án trong đêm năm đó, nếu hắn ra đầu thú, nộp vũ khí và không gây thêm những vụ án khác ở Hà Nội thì chắc chắn mức án mà tòa sơ thẩm đã tuyên có thể giúp hắn còn cơ hội trở lại với đời.
Và chỉ đến trước giờ hành quyết, khi hội đồng thi hành án đọc quyết định bác đơn xin tha tội chết của hắn, hắn mới thực sự chới với. Bữa cơm nhân đạo được dọn ra, hắn chỉ nhìn và không nuốt nổi. Hắn đề nghị được nhắn nhủ với mẹ, anh em, vợ con và xin được tha thứ. Hắn đã nhắn nhủ người vợ bất hạnh: “Em hãy gắng nuôi cho hai đứa con khôn lớn, dạy dỗ chúng nên người và đừng bao giờ theo con đường của bố”.
Nhưng tất cả điều đó chưa phải là nguyện ước cuối cùng của kẻ tử tù. Vượng đã có một nguyện ước là được hôn giám thị trước khi chết. Lúc ấy, Hội đồng thi hành án có nhiều người băn khoăn, tưởng hắn sẽ lợi dụng giây phút cuối cùng để làm những điều sai trái hoặc trả thù. Nào ngờ khi được Hội đồng thi hành án đồng ý, hắn đã ôm chầm và hôn lên má ông giám thị. Cái hôn cuối cùng của kẻ tử tù.
Cả hội đồng và những người đứng gần đã chứng kiến giây phút sám hối của một tên tội phạm. Nước mắt hắn giàn giụa. Cả người hắn rung lên vì những cơn nấc vì xúc động. Trong những thời khắc cuối cùng của một kẻ sát nhân, phần người đã thức dậy. Hắn nói lời cuối cùng: “Tội của tôi đáng bị trừng phạt, tôi chỉ tiếc là không sớm nhận ra để không gây thêm tội ác”.
