![]() |
|
Bà Lê Thị Hồng bật khóc, khi kể lại quãng đời lưu lạc. |
“Đời tôi khổ lắm!”, bà cất tiếng than. Nước mắt ứa ra trên hai khoé mắt. Sắc mặt u uất khi kể về hành trình phiêu dạt 15 năm, từ ngày bà bị lừa bán sang Trung Quốc.
Sinh năm 1943, quê ở Trù Sơn, Đô Lương, Nghệ An. Sau khi lập gia đình, Lê Thị Hồng về quê nội Thanh Chương. Hai vợ chồng công nhân nhà máy diêm, lương “ba cọc ba đồng” không đủ ăn, cuộc sống càng khó khăn túng bấn hơn khi nuôi 3 con nhỏ. Trước khi về làm công nhân lò sấy nhà máy diêm, một dạo bà tham gia sản xuất gốm ở Thanh Bình, Thanh Chương rồi đi đóng gạch ở Rào Gang.
Tháng 6/1991, cô con gái Trần Thị Oanh mất đột ngột vì bệnh tim. Nhà máy diêm rơi vào tình cảnh khó khăn không vực dậy được, bèn tuyên bố giải thể. Đành đi buôn nhưng buôn bán không phải là nghề của công nhân nghèo. Đã đến nước này, vẫn cố liều theo chân mấy người ở quê, bà gom lạc nhân bốc lên tàu chở ra Hà Nội. Vừa quăng thân vào thương trường chưa được bao lâu, bà đã cảm thấy chán nản vì lỗ nhiều hơn lãi.
Tháng 9/1991, trên một chuyến tàu ra Bắc, bà gặp một người đàn bà tên Vui. Họ ngồi cùng toa. Vui lân la hỏi chuyện, biết hoàn cảnh của Hồng, bèn gợi ý: “Chị có người bạn bên Trung Quốc đang cần tuyển nhân viên nấu ăn, lương tháng 600.000 đồng. Em có đi không?”. Sáu trăm ngàn một tháng, số tiền ấy nằm mơ cũng không thấy.
Sau một lúc đắn đo suy nghĩ, bà Hồng bụng bảo dạ miễn tìm được việc làm chính đáng, có thu nhập gửi về nuôi con là được. Chứ quanh đi quẩn lại thế này, không khéo chết đói mất. Bà bèn bảo Vui: “Chị thương em, xin chị cứu giúp em!”.
Vui ngọt ngào: “Làm phúc giúp được ai, tôi thanh thản lắm. Được rồi, nếu em đồng ý thì ta đi luôn kẻo trễ ngày, nhà hàng tuyển người khác thì công toi. Ra ga Hàng Cỏ rồi ta bắt ôtô lên biên giới luôn nhé?”.
Bà băn khoăn: “Em còn phải về nhà thu xếp mấy thứ và báo với gia đình, chị ạ!”. “Thế thì lằng nhằng lắm. Về rồi lại ra, tàu xe tốn kém. Chi bằng ta đi luôn sau này công việc ổn định em biên thư về nhà cũng được, có sao đâu. Mà tôi nói thật, tôi không có nhiều thời gian!”, Vui nói. Bà Hồng không muốn đánh mất cơ hội: “Thôi chị đã nói vậy, em cũng xin nghe”.
Tàu đến ga Hàng Cỏ. Giao hàng, nhận tiền xong, bà theo mụ Vui nhảy xe nhằm hướng Lạng Sơn. Trước khi luồn rừng qua bên kia biên giới, mụ Vui bảo bà trút bỏ trang phục Việt, lấy áo bông Trung Quốc mặc vào. “Cứ gửi lại nhà trọ, khi nào về nước lấy sau”, Vui bảo.
Một đêm đi bộ băng rừng. Đói và mệt. Cùng đi với bà còn có 5 cô gái trẻ, tuổi mười tám đôi mươi. Theo lời mụ Vui họ cũng đi tìm việc làm như bà. Tờ mờ sáng, đoàn người nghỉ lại trong một căn phòng u tối. Ngoài kia, núi rừng trùng điệp. Ngày nghỉ, đêm lên xe, xe ô tô chạy ròng rã 4 đêm liền.
Cuối cùng thì mụ Vui cũng đưa đến nơi cần đến. Nhìn quanh quất, chẳng thấy nhà hàng, bếp núc đâu cả. Chỉ thấy một ông già lò dò bước tới. Thêm vài mụ đàn bà lạ hoắc. Mụ Vui trao đổi gì đó với đám người lạ bằng tiếng Trung, xoè tay nhận 8.000 nhân dân tệ. Đó là số tiền mụ bán bà làm vợ ông già. “Biết mình bị lừa, tôi chạy lại níu áo mụ Vui nhưng mụ ta phủi tay bước đi”.
Cay đắng tột cùng, người đàn bà không cam chịu cảnh làm vợ người dưng, bèn tìm kế thoát thân. Một thời gian sau tìm cách chạy đến đồn Công an khóc lóc, ra hiệu kể lể hoàn cảnh éo le của mình.
Cảnh sát gọi phiên dịch đến, hiểu được hoàn cảnh chị, họ hỏi: “Có muốn về Việt Nam không?”. Bà Hồng nghĩ: “Giá mà tìm được việc làm ở đây”, bèn gật đầu: “Tôi muốn về, nhưng về thì tôi không có công ăn việc làm. Nếu tìm được việc làm ổn định, tôi ở lại”.
Những người tốt bụng cho bà vào làm trong một nông trại sản xuất lúa mì. Sau một thời gian làm lụng, tích góp được một ít tiền, tháng 10/1996 bà tìm đường về Việt Nam. Khi luồn rừng không may, bà gặp cướp, toàn bộ tư trang bị lột sạch. Không đồng tiền trong tay, bà Hồng phải quay lại chỗ cũ.
Lại nói chuyện ở Nghệ An. Sau khi Lê Thị Hồng “mất tích”, tưởng bà đã chết, gia đình lập bàn thờ, hương khói. Chế độ lương cũng đã bị cắt. Người chồng đi bước nữa.
Bà Hồng cũng không biết rằng một đứa con trai vì hoàn cảnh khó khăn mà liều mình đi tìm “vận may” ở mỏ đá đỏ Quỳ Châu. Giáp mặt bọn giang hồ tứ chiếng, con trai của bà bị đánh chết.
Cuối năm 1998, người đàn bà bất hạnh lại khăn gói tìm đường về quê hương. Nhưng cũng như lần trước, băng rừng, bà chạm mặt một toán cướp. Số tiền mấy năm trời chắt góp lại bị lột hết. Người đàn bà tội nghiệp đành lủi thủi quay lại đất người.
Trở lại thời điểm năm 1996, trên đường quay lại đất Trung Quốc, bà Hồng tình cờ gặp một người phụ nữ nghèo khổ đang bế đứa con gái nhỏ trên tay. Nhìn cô bé, chợt nhớ cô con gái đã mất, tâm trạng bà đau đớn.
Người đàn bà nghèo khổ thấy bà Hồng khóc, bèn lại gần, ra hiệu: “Chị có muốn lấy con bé này không?”. Mừng hơn bắt được vàng, bà Hồng gật đầu.
Đưa cô con gái nuôi về chỗ ở, bà đặt tên con là Khừa Chẩu Choai. Vừa nai lưng làm nông, bà vừa dạy dỗ đứa bé. Hai mẹ con yêu thương nhau như tình ruột thịt. Choai lớn lên, ngày càng xinh đẹp. Hiện Choai học ở một trường nội trú. Mỗi tháng, mẹ con bà mới gặp nhau một lần.
Đến tận bây giờ, Choai vẫn không hay biết người mẹ có công nuôi nấng mình khôn lớn là mẹ nuôi. Nhưng hàng xóm láng giềng thì biết. Mỗi lúc có ai kể rõ sự tình và bảo Choai đi tìm mẹ, em lắc đầu: “Không phải như vậy!”.
Tháng 11/2005, sau 15 năm lưu lạc nơi đất khách quê người, lần đầu tiên bà Hồng đã tìm được đường về quê hương. Người ta đón bà bằng sự ghẻ lạnh. Chồng bà đã có vợ mới. Người con trai duy nhất còn lại nay đã lập gia đình. Không thể trở lại căn nhà của mình. Tết qua đi trong không khí ảm đạm. Nỗi nhớ cô con nuôi ngày đêm giằng xé. Một lần nữa, người đàn bà bất hạnh lại phải cúi đầu, cất bước ra đi.
Xuống TP Vinh, bà gọi điện về báo cho con trai, tâm sự với con nỗi nhọc nhằn của mẹ trong tháng ngày trở lại với gia đình. Người con trai bảo: “Sao bây giờ mẹ mới nói với con?”, anh mời mẹ trở về.
“Nhục lắm con ơi, mẹ không chịu nổi”, người mẹ lại khóc. Gọi điện sang cho Choai. Choai cũng khóc: “Sao mẹ đi lâu vậy. Mẹ ơi, mẹ mau trở về với con!”.
Đi hay ở? Tâm can giằng xé. Ra đi lần này biết bao giờ mới có dịp quay về cố hương? Những đồng tiền cuối cùng bà mang về đã cạn, giờ thì trắng tay. Con trai thì nghèo. Chồng lại khó sẻ chia. Bà khốn khổ lang thang trên đất Vinh, rồi ghé vào nương nhờ một người quen.
Đêm giêng hai. Vầng trăng lạnh lẽo. Bà Hồng nói, bà muốn trở lại với cô con nuôi. “Choai đang khóc và đợi mẹ từng ngày”. Mười lăm năm lưu lạc, cay đắng tâm tư, long đong phận người, phải đâu đã hết…
(Theo Tiền Phong)
