![]() |
| Henry, chủ nhân chiếc giày vàng và quả bóng vàng CC2003 |
Tổng quát
Với Cameroon, Confederations Cup 2003 đủ bộ các liên đoàn châu lục. Châu Âu giành chiều chức VĐ nhất, 3 lần trong tổng số 6 lần giải được tổ chức.
Tính đến nay, chỉ có Pháp thành công bảo vệ chức VĐ (2001 và 2003). Pháp cũng là 1 trong 2 đội chủ nhà đăng quang, năm 2003. Đội kia là Mexico năm 1999, sau khi đánh bại Brazil 4-3 trong trận CK trước sự chứng kiến của 110.000 khán giả nhà trên thánh địa Azteca.
Trận đấu
Pháp 2003 là đội duy nhất toàn thắng trên con đường tới ngai vàng. Mexico (1999), Brazil (1997) và Denmark (1995) đều trải qua 1 trận hoà. Pháp 2001 từng chịu thất bại trước Australia.
Brazil giàu kinh nghiệm nhất ở Confederations Cup, tổng cộng trải qua 18 trận. Xếp kế tiếp là Mexico (14) và Saudi Arabia (12). Nhưng Brazil chỉ xếp thứ 2 về thành tích, thắng 10 và hoà 4, kém Pháp (9 thắng, 1 thua).
Có 21 bàn thắng được ghi trong 6 trận CK trước đây, tỷ lệ 3,5 bàn/trận (thấp hơn CL World Cup: 3,9 bàn/trận). Chỉ một lần duy nhất năm 2003, trận CK phải kéo dài. Nhưng ngay sau 2 hiệp chính Pháp vượt qua Cameroon với bàn thắng vàng của Thierry Henry ở phút 97.
Đánh bại Australia 6-0 (1997), Brazil là đội giành chiến thắng đậm nhất.
Chỉ có 2 trận được quyết định trên chấm 11m, đều có mặt của Mexico. Năm 1995, Mexico thua Đan Mạch 2-4 ở bán kết nhưng thắng Nigeria 5-4 ở trận tranh huy chương đồng. Tương tự với trận CK 2003, 2 trận khác có tiếng nói của bàn thắng vàng: pha làm bàn của Viduka giúp Australia loại Uruguay ở bán kết 1997 và bàn thắng trên sân nhà của Blanco đưa Mexico vượt qua Mỹ, tiến vào CK với Brazil.
Bàn thắng
Confederations Cup 1999 tại Mexico giữ kỷ lục về số bàn (55 bàn). Nhưng hiệu suất cao nhất thuộc về năm 1992 với 4,5 bàn/trận.
Cuauhtemoc Blanco của Mexico vẫn là chân sút hàng đầu, ghi tổng cộng 9 bàn ở hai kỳ (1997 và 1999), xếp trên Romario (Brazil, 7 bàn/4 trận năm 1997).
Năm 1999 đã chứng kiến kỷ lục của Marzouq Al Otaibi (Saudi Arabia) và Blanco (Mexico), 2 cầu thủ ghi 4 bàn/trận. “Ro-Ro-Ro” của Brazil (Romario, Ronaldo và Ronaldinho) là 3 trong số 4 cầu thủ từng lập hattrick. Người còn lại là Vladimir Smicer (CH Séc).
Kể từ năm 1999, có 3 cầu thủ đoạt “Chiếc giày vàng” cũng là chủ nhân của “Quả bóng vàng”: Ronaldinho (1999, 6 bàn), Robert Pires (2001, 2 bàn) và Thierry Henry (2003, 4 bàn)
Bàn thắng nhanh nhất thuộc về tiền đạo người Argentina Gabriel Batistuta, trong trận thắng Bờ Biển Ngà 4-0 năm 1992.
Năm 1997, Uruguay thắng Các tiểu vương quốc Arập Thống nhất 2-0. Cả hai bàn đó được ghi ở phút bù giờ thứ 2 của mỗi hiệp.
Xét tổng thể, Brazil đã có 38 bàn ở các kỳ Confederations Cup (trung bình: 2,11 bàn/trận), xếp trên Pháp với 24 (2,40 bàn/trận). Dù chỉ bằng nửa số bàn của Pháp, nhưng Australia (12 bàn trong 5 trận) cùng chia sẻ ngôi vị thứ 2 về hiệu suất ghi bàn (2,4 bàn/trận).
Con người
Confederations Cup đã có sự tham dự của 332 cầu thủ từng góp mặt ở World Cup. 45 trong số đó đã biết đến mùi vị chức VĐ Thế giới (Brazil: 27; Pháp: 16; Argentina: 1; Đức: 1).
Theo thống kê của baobongda.com.vn, Confederations Cup 1999 ở Mexico giữ kỷ lục về lượng khán giả: trung bình 60.000 người/trận (xếp thứ 2 mọi những giải đấu của FIFA). Trận CK năm đó, Mexico-Brazil diễn ra dưới sự chứng kiến của 110.000 CĐV có mặt trên sân.

