Trong khi đó, ở Việt Nam A. Đ. và những người như chị cảm thấy sự đối xử không công bằng với những trí thức là phụ nữ và thái độ thiếu tin tưởng, thậm chí xem thường người trẻ tuổi khi họ đứng trên bục bảo vệ luận văn. Đó là lý do vì sao nhiều du học sinh xuất sắc đã không về nước.
Theo Giáo Dục và Thời Đại, người phụ trách hệ cử nhân tài năng ở ĐH Khoa học tự nhiên cho biết: “Các em được tuyển lựa đầu vào rất kỹ. Những em đăng ký vào đây hầu hết là những học sinh đoạt giải cao trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia, quốc tế và khu vực. Một số khác là những thí sinh có điểm thi tuyển đầu vào cao, có thành tích học tập xuất sắc ở phổ thông”. Có nghĩa là mặt bằng chất lượng đầu vào rất sáng sủa. Sau 1-2 năm học, nhiều sinh viên hệ tài năng của trường đã thi được học bổng du học tại các trường danh tiếng của nước ngoài.
Sau khi kiểm tra kiến thức, các sinh viên này đã được sắp xếp vào học chương trình tương đương với sinh viên năm thứ 2-3. Đó là điều đáng tự hào. Nhưng vấn đề đáng nói là các sinh viên trên nói gì về tương lai?
Một sinh viên kiến trúc học tại Pháp, 28 tuổi, sắp lấy bằng tiến sỹ cho biết: “Em không biết khi về có một môi trường tốt để làm việc không? Ở đây, em đang có cơ hội việc làm. Một năm làm việc ở đây có thể bằng nhiều năm làm việc tại VN. Vấn đề không chỉ là thu nhập cao, mà là sự rút ngắn thời gian trưởng thành và cơ hội sáng tạo”.
Có rất nhiều sinh viên giỏi du học và đạt kết quả xuất sắc trong học tập ở nước ngoài hiện đang "đứng giữa đôi dòng nước" như vậy. Sinh viên Việt Nam hiếu học, chăm chỉ, thông minh, nhưng vẫn thiếu những cơ hội thực sự.
A. Đ., một trong số những du học sinh có được tấm bằng tiến sỹ ở lứa tuổi ngoài 20, với đề tài thuộc lĩnh vực môi trường từ Quebéc, Canada trở về cho biết: “Những gì chúng em được học và muốn làm thì rất khó thực hiện ở VN. Sự thiếu thốn các điều kiện thực hiện, và hàng loạt những vấn đề tế nhị khác về vấn đề thủ tục hành chính, về kinh phí, về con người và đặc biệt là sự nhìn nhận thiếu công bằng đối với những trí thức trẻ đã khiến những sinh viên giỏi không muốn trở lại môi trường làm việc ở VN sau khi tốt nghiệp”.
Một giáo viên trực tiếp giảng dạy ở hệ cử nhân tài năng - ĐHQG HN cho biết: "Một số em xuất sắc thi được học bổng du học vẫn gửi e-mail về cho tôi, nhưng hầu như không thấy em nào đề cập đến chuyện trở về".
Một số sinh viên hệ cử nhân tài năng, chuyên ngành Tin học, Vật lý tại trường này cho biết: "Học ở hệ đào tạo đặc biệt này năm đầu tiên, chúng em thấy có sự khác biệt so với hệ đại trà. Tuy nhiên càng học sâu hơn, chúng em càng thấy thiếu thốn nhiều thứ trong việc học tập, đặc biệt là nghiên cứu khoa học. Năm thứ 2, nhiều người trong chúng em chỉ chăm chăm vào một mục tiêu thi lấy học bổng du học.
Và du học xong thì không trở về hoặc nếu có cũng không có cơ hội để cống hiến. Đó là cái vòng luẩn quẩn của nhiều trí thức trẻ có tài.
Không kể hàng trăm sinh viên giỏi đã được tuyển chọn học các chương trình đào tạo đặc biệt trong nước, hàng năm còn có hàng trăm sinh viên khác tốt nghiệp các chương trình đào tạo ở nhiều ĐH nước ngoài trở về. Đó là nguồn nhân lực có thể đóng góp tốt cho các lĩnh vực kinh tế xã hội, nếu như có những cơ chế để tạo một môi trường cho họ làm việc, sáng tạo và phát triển.
Hiện có trên 3 vạn lưu học sinh du học theo các con đường: Hiệp định giữa hai Chính phủ, với học bổng của các tổ chức nước ngoài, học bổng của Chính phủ trong khuôn khổ đề án đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật của các cơ sở nước ngoài bằng nguồn ngân sách Nhà nước (đề án 322) và du học tự túc. Nhưng Bộ GD&ĐT cũng chỉ nắm được con số du học sinh đi theo đề án 322, với 120 du học sinh đã tốt nghiệp trở về nước. Số còn lại, do cá nhân học sinh, sinh viên tự liên hệ, không thông qua Bộ GD&ĐT nên khó nắm được con số đi cũng như số trở về.
Đến nay, chưa có một điều tra nào về thực trạng việc làm của những du học sinh, sau khi tốt nghiệp các trường ĐH nước ngoài trở về. Đây là vấn đề lớn, nhưng nhiều năm qua đã chưa được đặt ra một cách nghiêm túc. Những ưu đãi hiện hành với "người tài" mới chỉ mang tính nhỏ lẻ, do các địa phương, các cơ quan đặt ra, tùy theo tình hình mà thực hiện, không phải một cơ chế ở tầm vĩ mô có khả năng khuyến khích những người có năng lực phấn đấu trong học tập và cống hiến theo yêu cầu ở các lĩnh vực kinh tế xã hội.
Những năm gần đây, một số địa phương cũng có những chính sách thu hút nhân tài. Hà Nội có hẳn một đề án thu hút nhân tài. Nhưng hiệu quả của việc triển khai thực hiện không đáng kể. "Chính sách thu hút nhân tài của Hà Nội" lại chỉ nhắm vào những người có thâm niên trong tuổi nghề và tuổi đời, có tiếng tăm, ít chú ý đến lớp trẻ. Một tiến sỹ trẻ ngành môi trường ở Canada về kể: "Tôi được nhận vào một trường đại học, vừa tham gia nghiên cứu khoa học, vừa làm trợ giảng. Chỉ một thời gian ngắn làm việc tôi nhận thấy có hai điều bất ổn: Sự đối xử không công bằng với những trí thức là phụ nữ và thái độ thiếu tin tưởng, thậm chí xem thường người trẻ tuổi. Đó là những nguyên do khiến nhiệt huyết của giới trẻ bị mai một. Tôi hiểu vì sao nhiều du học sinh xuất sắc đã không vào làm việc tại cơ quan Nhà nước hoặc các trường đại học".
Trở lại vấn đề "môi trường cho những nhân tài", từ những câu chuyện buồn mà du học sinh kể ở trên, có thể thấy, để tạo một cơ hội cho những trí thức trẻ có năng lực phát triển, điều đầu tiên phải nghĩ đến là thay đổi nhận thức, thay đổi sự nhìn nhận về giới trẻ, thay đổi quan điểm tuyển dụng và sử dụng người trong lĩnh vực lao động trí óc. Sau đó mới là các điều kiện về thiết bị, máy móc, cơ chế làm việc và đãi ngộ.
